Con biết cách chuyển dịch một bài toán đếm bằng lời sang dạng tập hợp có điều kiện.
Con sử dụng thuần thục phương pháp đếm gián tiếp (Đếm phần bù) đối với các bài toán có từ khóa "ít nhất", "không quá".
Con giải quyết được bài toán vách ngăn Euler có điều kiện biên (ẩn số nhận giá trị bằng 0).
Đề bài dưới dạng ký hiệu chuyên Toán:
Tìm số lượng phần tử của tập hợp $A$ sau đây:
$$A = \{(x, y, z) \in \mathbb{N} \times \mathbb{N} \times \mathbb{N} \mid x + y + z = 10\}$$
ta hỏi con dịch đề bài: "Tìm số các cặp ba số $(x, y, z)$ là các số tự nhiên (tức là có thể bằng 0) sao cho tổng của chúng bằng 10".
Sự khác biệt: Bài toán trước chúng ta làm là nghiệm nguyên dương (ẩn $\ge 1$). Bài này là nghiệm tự nhiên (ẩn $\ge 0$, nghĩa là có bạn được 0 viên kẹo).
Mẹo đổi biến cho con: Để đưa về bài toán chia kẹo quen thuộc (ai cũng có ít nhất 1 viên), ta sẽ "cho mỗi bạn mượn tạm 1 viên kẹo ảo".
Vì $x, y, z \in \mathbb{N}$ nên $x \ge 0, y \ge 0, z \ge 0$.
Đặt ẩn phụ mới:
$X = x + 1 \implies X \ge 1$
$Y = y + 1 \implies Y \ge 1$
$Z = z + 1 \implies Z \ge 1$
Thay vào phương trình ban đầu:
$x + y + z = 10 \implies (X - 1) + (Y - 1) + (Z - 1) = 10$
Bài toán trở thành: Tìm số nghiệm nguyên dương của phương trình mới $X + Y + Z = 13$ (Tương đương chia 13 viên kẹo cho 3 bạn, bạn nào cũng có ít nhất 1 viên).
Áp dụng công thức vách ngăn Euler cơ bản:
Kết luận: Tập hợp $A$ có tất cả 66 phần tử.
Mẹo nhớ công thức nghiệm $\ge 0$ cho con: Chia $n$ viên kẹo cho $k$ người (chấp nhận có người 0 kẹo), số cách luôn là: $C_{n+k-1}^{k-1}$. (Ở bài này là $C_{10+3-1}^{3-1} = C_{12}^2 = 66$).
Đề bài: Từ các chữ số $0, 1, 2, 3, 4, 5, 6$, có thể lập được bao nhiêu số tự nhiên có 4 chữ số khác nhau đôi một sao cho số đó nhất thiết phải chứa chữ số 5?
Nếu đếm trực tiếp: xếp số 5 ở hàng nghìn, hàng trăm, hàng chục, hàng đơn vị... con sẽ bị rối và rất dễ đếm trùng.
Hãy dạy con tư duy ngược (Phần bù):
Gọi số có 4 chữ số khác nhau có dạng $\overline{abcd}$ (với $a \neq 0$).
Bước 1: Tính tổng số lượng số có 4 chữ số khác nhau đôi một (Tập Vũ trụ)
Chọn $a$: Có 6 cách (từ 1 đến 6, bỏ số 0).
Chọn $b$: Có 6 cách (bỏ chữ số vừa chọn cho $a$, lấy lại số 0).
Chọn $c$: Có 5 cách.
Chọn $d$: Có 4 cách.
$\implies$ Có tất cả: $6 \times 6 \times 5 \times 4 = 720$ số.
Bước 2: Tính số lượng số có 4 chữ số khác nhau mà KHÔNG CHỨA số 5
Khi cấm chữ số 5, tập hợp số của chúng ta chỉ còn lại 6 số: $\{0, 1, 2, 3, 4, 6\}$.
Chọn $a$: Có 5 cách (bỏ số 0 và số 5).
Chọn $b$: Có 5 cách (lấy lại số 0).
Chọn $c$: Có 4 cách.
Chọn $d$: Có 3 cách.
$\implies$ Có tất cả: $5 \times 5 \times 4 \times 3 = 300$ số.
Bước 3: Chốt hạ bằng phép trừ tập hợp
Số các số thỏa mãn yêu cầu đề bài (có chứa chữ số 5) là:
Đề bài: Có bao nhiêu bộ số nguyên dương $(x, y, z)$ thỏa mãn điều kiện bất phương trình sau:
$$x + y + z \le 10$$
Đề bài cho dấu nhỏ hơn hoặc bằng ($\le$) chứ không phải dấu bằng ($=$).
Cách thông thường: Con sẽ phải chia làm nhiều trường hợp: tổng bằng 3, bằng 4, bằng 5... rồi cộng các kết quả vách ngăn lại. Cách này đúng nhưng mất thời gian.
Tuyệt chiêu chuyên Toán: Biến bất phương trình thành phương trình bằng cách thêm một "ẩn biến phụ" (gọi là Ẩn rác).
Để biến dấu $\le 10$ thành dấu $= 10$, ta thêm vào một số nguyên $t \ge 0$ đóng vai trò là "phần bù" còn thiếu để tổng chạm đến 10.
Khi đó, bài toán tương đương với việc tìm nghiệm của phương trình:
Trong đó: $x, y, z$ là các số nguyên dương ($\ge 1$), còn $t$ là số tự nhiên ($\ge 0$).
Đổi biến để đồng nhất điều kiện: Vì $t \ge 0$, ta đặt $T = t + 1 \implies T \ge 1$.
Thay vào phương trình:
$x + y + z + (T - 1) = 10 \implies x + y + z + T = 11$
Bây giờ, bài toán trở thành tìm số nghiệm nguyên dương của phương trình 4 ẩn: $x + y + z + T = 11$ (Chia 11 viên kẹo cho 4 người, ai cũng có ít nhất 1 viên).
Áp dụng công thức vách ngăn Euler:
Kết luận: Có tất cả 120 bộ số thỏa mãn.
Bài toán số 3 là một ví dụ điển hình về cái gọi là "vẻ đẹp của toán tổ hợp". Việc thêm ẩn phụ $t$ giống như việc anh chuẩn bị 10 viên kẹo chia cho 3 đứa trẻ, thay vì ép chúng ăn hết ($\le 10$), chúng ta tạo ra người thứ 4 là "Cái giỏ đựng kẹo thừa". Số kẹo thừa thãi nằm trong giỏ chính là giá trị của $t$.