Anh hãy bắt đầu bằng một ví dụ gần gũi trong nhà: Tủ lạnh và Hộp bút.
Tập hợp (Set): Là một nhóm các đối tượng có chung một đặc điểm nào đó. Người ta thường đặt tên tập hợp bằng chữ cái in hoa ($A, B, C...$).
Ví dụ: Anh gọi $A$ là tập hợp các loại trái cây đang có trong tủ lạnh. $A = \{\text{Táo, Cam, Nho, Xoài}\}$.
Phần tử (Element): Là từng món đồ cụ thể nằm trong tập hợp đó.
Thuộc ($\in$): Quả Táo nằm trong tủ lạnh, ta viết $\text{Táo} \in A$ (Đọc là: Táo thuộc $A$).
Không thuộc ($\notin$): Quả Dưa Hấu không có trong tủ, ta viết $\text{Dưa Hấu} \notin A$.
Khái niệm: Nếu mọi phần tử của tập hợp $B$ đều nằm gọn bên trong tập hợp $A$, thì $B$ được gọi là "con" của $A$.
Ký hiệu: $B \subset A$ (Đọc là: $B$ là tập con của $A$).
Ví dụ cho con:
Gọi $A$ là tập hợp Tất cả các học sinh lớp 8.
Gọi $B$ là tập hợp Các học sinh nam lớp 8.
Rõ ràng bạn nam nào cũng là học sinh lớp 8, nên $B$ nằm trọn vẹn trong $A$. Ta có $B \subset A$.
Mẹo trực quan: Anh vẽ một vòng tròn to $A$, và vẽ một vòng tròn nhỏ $B$ nằm lọt thỏm hoàn toàn bên trong $A$.
Đây là phần con hay nhầm lẫn nhất. Anh hãy vẽ hai vòng tròn cắt nhau (Biểu đồ Venn) để giải thích 3 phép toán cốt lõi sau.
Giả sử trong lớp con:
Vòng tròn $A$: Nhóm các bạn thích đá bóng.
Vòng tròn $B$: Nhóm các bạn thích bơi lội.
Bản chất: Là phần chung của cả hai tập hợp.
Giải thích: Các bạn nằm ở vùng giao nhau phải thỏa mãn cả hai điều kiện: Vừa thích đá bóng VÀ vừa thích bơi lội.
Ký hiệu: $A \cap B$. (Mẹo nhớ cho con: Ký hiệu chữ U úp xuống $\cap$ giống như cái nón che phần chung ở giữa).
Bản chất: Là gom tất cả các bạn ở cả hai vòng tròn lại với nhau.
Giải thích: Chỉ cần bạn đó thích đá bóng, HOẶC thích bơi lội, HOẶC thích cả hai thì đều được mời vào nhóm này. (Lưu ý: Bạn nào thích cả hai thì cũng chỉ đếm 1 lần).
Ký hiệu: $A \cup B$. (Mẹo nhớ cho con: Ký hiệu chữ U ngửa lên $\cup$ giống như cái bát to để gom hết mọi thứ vào).
Bản chất: Là lấy phần của tập này, nhưng khoét bỏ đi phần chung với tập kia.
Giải thích: $A \setminus B$ là nhóm các bạn CHỈ thích đá bóng mà KHÔNG thích bơi lội.
Ký hiệu: $A \setminus B$. (Đọc là $A$ trừ $B$ hoặc $A$ hiệu $B$).
Đây là bài toán kinh điển để con ứng dụng ngay biểu đồ Venn vào dạng Toán đếm (Module 2).
Bài toán: Lớp của con có 40 học sinh. Trong đó có 25 bạn thích Toán ($T$), 20 bạn thích Lý ($L$), và có 10 bạn thích cả Toán lẫn Lý (phần giao nhau). Hỏi có bao nhiêu bạn KHÔNG thích cả Toán lẫn Lý?
Cách anh hướng dẫn con giải bằng Tập hợp:
Vẽ hình: Vẽ một hình chữ nhật to đại diện cho 40 bạn. Bên trong vẽ 2 vòng tròn cắt nhau (vòng $T$ và vòng $L$).
Điền số từ trong ra ngoài (Nguyên tắc vàng):
Điền số vào phần giao nhau trước: Có 10 bạn thích cả 2 môn $\rightarrow$ Điền 10 vào phần chung $T \cap L$.
Tính phần chỉ thích Toán ($T \setminus L$): Cả vòng $T$ có 25 bạn, trừ đi 10 bạn ở giữa $\rightarrow$ Còn 15 bạn.
Tính phần chỉ thích Lý ($L \setminus T$): Cả vòng $L$ có 20 bạn, trừ đi 10 bạn ở giữa $\rightarrow$ Còn 10 bạn.
Tính tổng (Hợp của 2 tập): Số bạn thích ít nhất một môn (Toán hoặc Lý) là gom 3 vùng lại: $15 + 10 + 10 = 35$ bạn.
(Hoặc anh dạy con công thức: $\vert{}T \cup L\vert{} = \vert{}T\vert{} + \vert{}L\vert{} - \vert{}T \cap L\vert{} = 25 + 20 - 10 = 35$).
Kết luận: Vậy số bạn nằm ngoài hai vòng tròn (không thích môn nào) là: $40 - 35 = 5$ bạn.
Việc dùng vòng tròn Venn để giải quyết các bài toán đếm chồng chéo sẽ giúp con hình dung rất nhanh mà không cần học thuộc công thức.
Bài toán: Để chuẩn bị cho kỳ thi Học sinh giỏi, một trường THCS lập đội tuyển tham gia 3 môn: Toán ($T$), Lý ($L$) và Hóa ($H$). Trong danh sách đội tuyển, có:
$30$ học sinh giỏi Toán.
$20$ học sinh giỏi Lý.
$25$ học sinh giỏi Hóa.
$12$ học sinh giỏi cả Toán và Lý.
$15$ học sinh giỏi cả Toán và Hóa.
$10$ học sinh giỏi cả Lý và Hóa.
$5$ học sinh giỏi cả 3 môn.
Hỏi tổng số học sinh trong đội tuyển của trường là bao nhiêu? (Biết mỗi học sinh trong danh sách đều giỏi ít nhất một môn).
Anh bảo con vẽ 3 vòng tròn giao nhau tạo thành một hình "bông hoa 3 cánh".
Nhắc lại Nguyên tắc vàng: Điền số từ trong lõi điền ra ngoài! (Tức là điền phần giao của cả 3 tập hợp trước).
Vùng lõi trung tâm (Giao của 3 tập $T \cap L \cap H$): Có $5$ học sinh giỏi cả 3 môn.
Vùng giao của 2 môn (Cánh hoa):
Giỏi Toán và Lý: Đề cho $12$, trừ đi $5$ bạn ở lõi $\rightarrow$ Còn $7$ bạn chỉ giỏi Toán và Lý.
Giỏi Toán và Hóa: Đề cho $15$, trừ đi $5$ bạn ở lõi $\rightarrow$ Còn $10$ bạn chỉ giỏi Toán và Hóa.
Giỏi Lý và Hóa: Đề cho $10$, trừ đi $5$ bạn ở lõi $\rightarrow$ Còn $5$ bạn chỉ giỏi Lý và Hóa.
Vùng đơn môn (Cánh hoa ngoài cùng):
Số bạn chỉ giỏi Toán: $30 - (7 + 5 + 10) =$ $8$ bạn.
Số bạn chỉ giỏi Lý: $20 - (7 + 5 + 5) =$ $3$ bạn.
Số bạn chỉ giỏi Hóa: $25 - (10 + 5 + 5) =$ $5$ bạn.
Tính tổng số học sinh: Gom tất cả các vùng riêng biệt lại:
Mở rộng công thức tính nhanh cho con:
$\vert{}T \cup L \cup H\vert{} = (\vert{}T\vert{} + \vert{}L\vert{} + \vert{}H\vert{}) - (\vert{}T \cap L\vert{} + \vert{}T \cap H\vert{} + \vert{}L \cap H\vert{}) + \vert{}T \cap L \cap H\vert{}$
Thay số: $(30 + 20 + 25) - (12 + 15 + 10) + 5 = 75 - 37 + 5 = 43$.
Khi làm toán chuyên, con cần chuyển từ việc "mô tả bằng lời" sang "viết bằng ký hiệu". Dưới đây là các cấu trúc mà đề thi hay dùng:
Dùng khi số lượng phần tử hữu hạn và có thể đếm được.
Ý nghĩa: Tập hợp $A$ chứa các đối tượng đơn lẻ $x_1, x_2...$
Ví dụ: Tập hợp các số nguyên tố nhỏ hơn 10: $P = \{2, 3, 5, 7\}$.
Dùng khi số lượng phần tử quá nhiều hoặc vô hạn, không thể liệt kê hết.
Cấu trúc: $\{ \text{Biến } x \text{ thuộc tập nào} \mid \text{Điều kiện/Tính chất của } x \}$ (Dấu $\mid$ hoặc dấu $:$ đọc là "sao cho").
Ví dụ: Tập hợp các số tự nhiên chẵn nhỏ hơn 100:
Đây là dạng rất hay gặp trong Đồ thị hoặc Bài toán tìm nghiệm phương trình. Mỗi phần tử trong tập hợp này không phải là một số đơn lẻ, mà là một cặp số đi liền với nhau.
Ý nghĩa: Tập hợp $B$ gồm các cặp có thứ tự $(x, y)$.
Ví dụ trong hình học: Tập hợp các đỉnh của một tam giác trên mặt phẳng tọa độ: $D = \{(0,0), (3,0), (0,4)\}$.
Ví dụ trong số học (Tìm nghiệm phương trình $x + y = 5$ với $x,y \in \mathbb{N}^$):*
(Lưu ý con: Cặp $(1,4)$ khác hoàn toàn cặp $(4,1)$ vì thứ tự vị trí $x, y$ đã thay đổi).
Ý nghĩa: Cho biết tập hợp $A$ có bao nhiêu phần tử.
Ví dụ: Nếu $A = \{2, 3, 5, 7\}$ thì $\vert{}A\vert{} = 4$.
Ý nghĩa: Tập hợp không chứa bất kỳ phần tử nào. Số phần tử của nó bằng 0 ($\vert{}\emptyset\vert{} = 0$).
Ví dụ: Tập hợp các số tự nhiên lớn hơn 3 nhưng nhỏ hơn 4: $B = \emptyset$.
Anh có thể cho con làm bài tập nhỏ này để kiểm tra xem con đã đọc - hiểu được ngôn ngữ ký hiệu chưa nhé:
Đề bài: Hãy liệt kê các phần tử của tập hợp sau:
$$M = \{(x, y) \in \mathbb{N}^* \times \mathbb{N}^* \mid x \cdot y = 6\}$$
Cách anh hướng dẫn con dịch đề: "Tìm các cặp số nguyên dương $(x, y)$ sao cho tích của chúng bằng 6".
Đáp án của con phải viết là: $M = \{(1, 6), (2, 3), (3, 2), (6, 1)\}$.