Con phân biệt rõ ràng khi nào dùng Quy tắc cộng (các phương án độc lập) và Quy tắc nhân (các công đoạn liên tiếp).
Con hiểu được khái niệm "Tổ hợp" (chọn nhóm không phân biệt thứ tự) thông qua các bài toán đếm hình, đếm điểm.
Con làm chủ kỹ thuật Vách ngăn Euler để giải các bài toán chia kẹo/chia phần thưởng.
Ta hãy dùng ví dụ thực tế về thực đơn bữa tối để con dễ hình dung:
Quy tắc cộng (HOẶC): "Tối nay nhà mình đi ăn, con được chọn uống 1 loại nước: hoặc chọn trong 3 loại sinh tố, hoặc chọn trong 4 loại nước ép. Con có bao nhiêu cách chọn?" $\rightarrow 3 + 4 = 7$ cách. (Chọn cái này thì thôi cái kia).
Quy tắc nhân (VÀ): "Bây giờ con được chọn 1 món ăn VÀ 1 loại nước. Thực đơn có 5 món ăn và 7 loại nước. Có bao nhiêu cách kết hợp?" $\rightarrow 5 \times 7 = 35$ cách. (Phải thực hiện liên tiếp cả 2 bước mới xong công việc).
Bài toán 1 (Form đếm số lập từ tập hợp): Từ các chữ số $1, 2, 3, 4, 5$, có thể lập được bao nhiêu số tự nhiên có 3 chữ số sao cho:
a) Các chữ số có thể giống nhau?
b) Các chữ số phải khác nhau đôi một?
Hướng dẫn con lập luận:
Gọi số cần lập là $\overline{abc}$. Việc lập số này gồm 3 công đoạn liên tiếp: Chọn $a$, chọn $b$, và chọn $c$. Do đó phải dùng Quy tắc nhân.
Lời giải câu a: Vì các chữ số có thể giống nhau, nên cả $a, b, c$ đều có 5 cách chọn (từ 1 đến 5). Số các số lập được là: $5 \times 5 \times 5 = 125$ số.
Lời giải câu b: * Chọn $a$: Có 5 cách chọn.
Chọn $b$: Vì $b$ phải khác $a$, nên chỉ còn 4 cách chọn.
Chọn $c$: Vì $c$ phải khác $a$ và $b$, nên chỉ còn 3 cách chọn.
Số các số có 3 chữ số khác nhau là: $5 \times 4 \times 3 = 60$ số.
Đây là phần "đắt giá" nhất của Module này. Bài toán gốc thường có phát biểu rất đơn giản: "Có $n$ viên kẹo giống nhau chia cho $k$ đứa trẻ...". Nếu đếm thủ công từng trường hợp chia thì sẽ không bao giờ làm kịp thời gian thi.
Đề bài: Có 10 viên kẹo giống hệt nhau chia cho 3 em bé sao cho ai cũng có ít nhất 1 viên kẹo. Hỏi có bao nhiêu cách chia?
Ta chuẩn bị cho tôi 10 vật dụng giống nhau (ví dụ 10 viên bi, 10 cái nắp chai) xếp thành một hàng ngang.
Ta hỏi con: "Để chia 10 viên bi này thành 3 phần cho 3 người, con cần dùng mấy cái thước kẻ để chặn giữa chúng?" $\rightarrow$ Con sẽ trả lời là 2 cái thước (vách ngăn).
Ta hỏi tiếp: "Có bao nhiêu vị trí (khoảng trống) giữa các viên bi để con đặt thước vào sao cho các phần đều có bi?"
Xếp 10 viên kẹo thành một hàng ngang. Vì các viên kẹo đứng cạnh nhau, giữa chúng sẽ có tất cả: $10 - 1 = 9$ khoảng trống.
Toán học hóa: Để chia 10 viên kẹo thành 3 phần (mỗi phần ít nhất 1 viên), ta chỉ cần chọn ra 2 khoảng trống trong số 9 khoảng trống đó để đặt 2 vách ngăn vào.
Ví dụ: Nếu ta đặt vách ngăn ở khoảng trống thứ 2 và thứ 7, đứa trẻ 1 được 2 viên, đứa trẻ 2 được 5 viên, đứa trẻ 3 được 3 viên.
Do đó, số cách chia kẹo chính là số cách chọn 2 vị trí từ 9 vị trí trống.
Kết quả: Số cách chia là $C_9^2 = \frac{9 \times 8}{2} = 36$ cách.
Công thức tổng quát cho con: Có $n$ phần quà giống nhau chia cho $k$ người sao cho ai cũng có ít nhất 1 phần, số cách chia luôn là: $C_{n-1}^{k-1}$.
Khi đi thi, bài toán vách ngăn sẽ bị "ngụy trang" dưới dạng phương trình số học hoặc điều kiện ràng buộc phức tạp hơn để thử thách học sinh.
Đề bài: Có 12 viên kẹo giống nhau chia cho 3 đứa trẻ $A, B, C$. Hỏi có bao nhiêu cách chia sao cho đứa trẻ $A$ được ít nhất 1 viên, đứa trẻ $B$ được ít nhất 2 viên, và đứa trẻ $C$ được ít nhất 3 viên?
Bí quyết ở đây là "Phát vốn trước". Để đưa bài toán về dạng cơ bản (ai cũng có ít nhất 1 viên), ta hãy lấy kẹo phát trước cho các bạn để thỏa mãn điều kiện tối thiểu của đề bài.
Bước 1: Tổng số kẹo tối thiểu cần phát trước cho cả 3 đứa trẻ để vừa lòng đề bài là:
Phát trước cho $A$: 0 viên (vì $A$ cần ít nhất 1 viên, lát nữa chia theo bài toán gốc $A$ sẽ có ít nhất 1 viên).
Phát trước cho $B$: 1 viên (để khi cộng thêm ít nhất 1 viên ở lượt chia sau, $B$ sẽ có ít nhất 2 viên).
Phát trước cho $C$: 2 viên (để lát nữa cộng thêm ít nhất 1 viên, $C$ sẽ có ít nhất 3 viên).
Mẹo nhỏ: Hoặc ta phát hẳn cho $A$ 1 viên, $B$ 2 viên, $C$ 3 viên. Tổng số kẹo đã phát là $1 + 2 + 3 = 6$ viên.
Bước 2: Số kẹo còn lại trong túi là: $12 - 6 = 6$ viên kẹo.
Bước 3: Bây giờ, bài toán trở thành: Chia 6 viên kẹo còn lại cho 3 đứa trẻ $A, B, C$ sao cho mỗi đứa trẻ nhận thêm bất kỳ (có thể không nhận thêm viên nào).
Để dùng được công thức vách ngăn (mỗi người ít nhất 1 viên), ta mượn tạm của mỗi đứa trẻ 1 viên kẹo ảo (tổng cộng mượn thêm 3 viên). Số kẹo bây giờ là $6 + 3 = 9$ viên.
Áp dụng công thức vách ngăn chia 9 viên cho 3 người (mỗi người ít nhất 1 viên):
Đề bài: Tìm số nghiệm nguyên dương của phương trình: $x + y + z + t = 15$.
Ta hãy chỉ cho con mối liên hệ: Số $15$ chính là 15 viên kẹo. Bốn ẩn số $x, y, z, t$ chính là 4 đứa trẻ. Nghiệm "nguyên dương" nghĩa là các ẩn số phải $\ge 1$ (tức là đứa trẻ nào cũng có ít nhất 1 viên kẹo).
Bài toán tìm số nghiệm nguyên dương của phương trình tương đương hoàn toàn với bài toán: Chia 15 viên kẹo giống nhau thành 4 phần sao cho phần nào cũng có ít nhất 1 viên kẹo.
Số viên kẹo $n = 15$. Số phần cần chia $k = 4$.
Áp dụng kỹ thuật vách ngăn Euler, số cách đặt 3 vách ngăn vào 14 khoảng trống là:
Kết luận: Phương trình có tất cả 364 nghiệm nguyên dương.
Ta thấy kỹ thuật Vách ngăn Euler này biến một bài toán đếm phức tạp thành một phép tính tổ hợp cực kỳ gọn.